25/08/2016

(ĐCSVN) - Với nỗ lực giúp ngư dân có một hệ thống hầm lạnh chứa sản phẩm đánh bắt được đảm bảo chất lượng, nhóm kỹ sư trẻ của trường Cao đẳng Công nghệ Đà Nẵng đã thực hiện đề tài nghiên cứu có liên quan. Đến nay, sau hơn nửa năm lắp đặt thí nghiệm, hệ thống hầm lạnh này đã cho kết quả khả quan, cho phép nhân rộng trong thời gian tới.

Khắc phục một số nhược điểm bảo quản sau đánh bắt

Đó là mục tiêu mà đề tài nghiên cứu “Lắp đặt hệ thống lạnh cho tàu đánh bắt xa bờ” mà nhóm kỹ sư trẻ Trường Cao đẳng Công nghệ thuộc Đại học Đà Nẵng hướng đến. Đề tài do TS Phan Quý Trà, Trưởng phòng Quản lý khoa học-Hợp tác quốc tế của Trường này làm Chủ nhiệm và được phối hợp bởi Trung tâm tiết kiệm năng lượng và tư vấn chuyển giao công nghệ (TKNL&TVCGCN) thuộc Sở Khoa học & Công nghệ (KH&CN) TP Đà Nẵng thực hiện.

Tau_lanh_1

Hệ thống ống và dây làm lạnh (phía sau hệ thống này là kho lạnh)

Tại Hội thảo báo cáo kết quả đề tài kể trên do Sở KH&CN thành phố Đà Nẵng tổ chức sáng 2/4, TS Phan Quý Trà, Chủ nhiệm đề tài cho biết: Cũng như nhiều địa phương khu vực duyên hải miền Trung, ngư dân Đà Nẵng ngày càng nhận được nhiều hơn sự quan tâm, hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, an tâm bám ngư trường, bám biển, tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Nhờ đó đến nay, trên địa bàn TP đã có 1.174 tàu có công suất từ 90 CV trở lên, trong đó có đến 300 tàu đánh bắt xa bờ có công suất trên 400 CV. Nghề đánh bắt xa bờ của ngư dân Đà Nẵng vừa mang giá trị kinh tế cao, vừa là nhân tố quan trọng góp phần bảo vệ và khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại các ngư trường xa, trong đó có ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa và nhiều ngư trường lớn khác.

Tuy nhiên, theo TS Trà, trang thiết bị nghề nghiệp, kết cấu hầm bảo quản trên tàu cá của ngư dân Đà Nẵng hiện chưa được bảo tốt và quá trình bảo quản lạnh vẫn theo cách thức truyền thống. Hầu hết các tàu khi vươn khơi đều mang theo đá (dạng cây) và ướp đá bằng công thức giản đơn là 1 lớp cá-1 lớp đá. Vì thế, lượng tổn thất sau đánh bắt còn ở mức cao (trên 20%), cộng với một số cách thức bảo quản sau đánh bắt lẽ ra không nên áp dụng vẫn đành phải áp dụng trên tàu, kéo theo giá trị sản phẩm sau đánh bắt không tương xứng với nguồn lợi đánh bắt được.

Trước thực trạng này, nhằm hỗ trợ ngư dân thực hiện bảo quản sản phẩm đánh bắt sau thu hoạch, Sở KH&CN TP đã đồng ý cho phép triển khai thực hiện đề tài “Nghiên cứu, lắp đặt hệ thống lạnh cho tàu đánh cá xa bờ”, đồng thời giao Trung tâm TKNL&TVCGCN thuộc Sở chủ trì thực hiện.

Theo TS Phan Quý Trà, ngay sau khi nhận đề tài này, ông đã cùng các cộng sự khảo sát một số mô hình đã có ở địa phương bạn (một ở nam Trung bộ và một ở nam Nam bộ). Bên cạnh các ưu điểm của hệ thống (đã áp dụng ở tỉnh bạn) có cấu tạo gọn nhẹ, không chiếm diện tích và gây cản trở các hoạt động nhập-xuất sản phẩm trong hầm bảo quản; tiết kiệm đá (giảm bớt số đá cây phải mang theo tàu) nên bớt tốn nhiên liệu; thời gian bảo quản được lâu (khoảng 1 tháng trên biển) và cả khi mang về bờ, đưa ra chợ hay vào nhà hàng, sản phẩm vẫn tươi lâu một thời gian, bán được giá cao hơn bình thường. Lượng tổn thất, hao hụt ít.

Tuy nhiên, khi xét đến mẫu số chung về hạn chế, bất cập của các hệ thống lạnh (được lắp đặt trên tàu đánh bắt) khi phải làm việc trên biển dài ngày, mô hình ở địa phương bạn vẫn chưa tránh được tình trạng oxy hóa mạnh trong môi trường muối biển lan tỏa trong không khí đậm đặc và khả năng chịu được va đập (không móp méo, biến dạng) của thiết bị trong hệ thống. Quan trọng hơn, đó là vấn đề hiệu suất làm lạnh của hệ thống. Các mô hình đã có chưa giải quyết được bài toán làm sao để hệ thống hoạt động ổn định. Trong khi mô hình hệ thống lạnh của đề tài này đã khắc phục được những hạn chế sau đánh bắt đó.

Những cải tiến quan trọng

Theo phân tích của Ths Hồ Quốc Sơn, thành viên nhóm kỹ sư trẻ nghiên cứu đề tài này, để thiết kế một hệ thống bảo quản lạnh, ngoài các yếu tố vật liệu cấu tạo của hầm phải đảm bảo các yếu tố cách nhiệt, giảm tổn thất lạnh ra môi trường thì còn một yếu tố quan trọng nữa, đó là vật liệu phải có khả năng chống ăn mòn, đặc biệt là chịu được môi trường biển (tính oxy hóa cao hơn thông thường). “Chúng tôi đã nghiên cứu và đề xuất sử dụng vật liệu Inox 304 dầy 2mm, có khả năng chống chịu với oxy hóa cao trong môi trường biển, đây là vật liệu chính được sử dụng để làm vách, trần hầm lạnh với vật liệu có độ bền cao.Đồng thời tiến hành các giải pháp cải tạo lại hầm lạnh truyền thống trên tàu ngư dân như: Lựa chọn vật liệu làm hầm mới, trong đó đã thay thế vật liệu cách nhiệt bằng vật liệu Inox và kết hợp với phun lớp foam cách nhiệt bằng vật liệu bột xốp (Polyurethane) có độ dày thích hợp xung quanh bề mặt hầm Inox làm nhiệm vụ cách nhiệt nhiều lớp. Với cách thức này, so với ban đầu thì sẽ tạo thành nhiều lớp vách cách nhiệt (lớp gỗ thành tàu, lớp Foam PU, lớp Inox) sẽ đảm bảo giảm thiểu thất thoát nhiệt ra ngoài môi trường, giảm nước đá bị tan chảy và đảm bảo chất lượng sản phẩm sau thu hoạch an toàn, nguyên vẹn”- Ths Hồ Quốc Sơn cho biết.

Cùng với những cải tiến trên, nhóm kỹ sư nghiên cứu đề tài còn bố trí thiết bị bay hơi (có 3 modul, mỗi modul gồm 22 ống đồng Ø12, bước ống 80mm, kích thước một modul: 1.22 x 2.4 m, diện tích trao đổi nhiệt: 2.9 m2) với phương án bố trí thiết bị gọn, không chiếm nhiều diện tích, giảm chiều dài đường ống… vừa tiết kiệm chi phí, đồng thời vẫn đảm hệ thống lạnh hoạt động hiệu quả và ổn định lâu dài trên biển.

Đặc biệt, trong thiết kế thiết bị bay hơi và hầm bảo quản lạnh, để đảm bảo yêu cầu công suất nhiệt cần thiết, nhóm kỹ sư nghiên cứu đề tài đã đề xuất trao đổi nhiệt với môi chất mới R134a (mà không sử dụng R12, R21 và R22 là những môi chất phá hủy tầng ozon, gây hiệu ứng nhà kính, dẫn đến biến đổi khí hậu).

“Máy nén lạnh trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chọn máy nén lạnh kiểu hở, bởi trên tàu thì không thể có điện để duy trì hoạt động liên tục của máy. Phương pháp truyền động lực chúng tôi khai thác truyền động từ trục chính của động cơ máy tàu để vận hành máy nén lạnh. Về phương pháp truyền nhiệt trong hệ thống, chúng tôi quyết định lựa chọn phương pháp đối lưu tự nhiên với chất tải lạnh, sử dụng dầu truyền nhiệt “Shell-Thermia Oil B” – kỹ sư Nguyễn Thanh Trí, thành viên Nhóm nghiên cứu chia sẻ.

Đã thí nghiệm thành công

Theo TS Phạm Quý Trà, Chủ nhiệm đề tài: Mô hình ứng dụng “Nghiên cứu, lắp đặt hệ thống lạnh cho tàu đánh cá xa bờ” kể trên đã được lắp đặt và vận hành thử nhiệm trên tàu cá DNa 90621 của ông Đồng Văn Đền (phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà) từ tháng 9/2014. Ngư trường chính của tàu cá DNa 90621 là Hoàng Sa. “Đến nay ông Đền đã có 5 chuyến đánh bắt xa bờ (mỗi chuyến khoảng 20 ngày) và 1 trong 5 hầm chứa sản phẩm đánh bắt được của ông luôn được làm lạnh, giữ nhiệt đảm bảo chất lượng sản phẩm theo yêu cầu.

Tau_lanh_2

Tàu cá DNa 90621 do ông Đền làm chủ được Ban Chủ nhiệm đề tài tiến hành thử nghiệm mô hình hầm lạnh

“Cá tươi hơn, đặc biệt là số cá hư hao do lớp đá và cá ở trên đè xuống lớp dưới cũng ít hơn. Ước tính sơ bộ, nếu tàu của tôi áp dụng hết cho cả 5 hầm bằng cách bảo quản mới này, khi ra khơi sẽ giúp tôi giảm bớt lượng đá cây mang theo, dầu chạy tàu cũng bớt lại (do ít vận chuyển đá); sản phẩm đánh bắt được cũng giảm hư hao, mang về bờ lượng còn tươi nhiều hơn… Nhờ đó, mỗi chuyến tăng thêm lãi ròng chừng 10 đến 20 triệu” - ông Đồng Văn Đền, chủ tàu cá đang thử nghiệm (DNa 90621) cho biết.

Tuy nhiên, theo ông Đền, Ban Chủ nhiệm đề tài cần cho lắp thêm một giàn lạnh đối xứng với giàn lạnh đã lắp thử nghiệm vừa qua. Như vậy từ cả hai phía vách hầm, hơi lạnh sẽ tỏa đều, đảm bảo độ lạnh cho cả hầm. Thực tế hiện nay độ lạnh chưa đều cho cả hầm. Tuy không làm sản phẩm hư hỏng nhưng sẽ tốt hơn nếu cho độ lạnh mạnh thêm lên và đều khắp cả hầm.

Về vấn đề này, theo TS Phan Quý Trà, do đây là mô hình thử nghiệm đầu tiên nên bộ phận kỹ thuật chỉ lắp đặt hệ thống tỏa nhiệt ở 1 phía vách hầm. Nếu sau này áp dụng rộng rãi sẽ cho áp dụng cả 4 vách để đảm bảo hầm được đông lạnh 100%. Ngoài ra, TS Trà cũng cho biết, nếu áp dụng đại trà cho các tàu của TP thì chi phí làm lạnh này sẽ giảm đáng kể bởi thiết bị sẽ được sản xuất hàng loạt (còn đây mới chỉ mang tính thí nghiệm).

Tau_lanh_3

Theo ông Đồng Văn Đền, hệ thống cáp lắp phải chống được oxy hóa và va  đập, đây luôn là điểm yếu của mô hình này bởi điều kiện nước biển mặn và sóng gió trên biển. Vì thế, Ban chủ nhiệm đề tài cần có giải pháp khắc phục.

Như vậy, với thành công của mô hình thử nghiệm này, hy vọng trong thời gian tới khi mô hình được nhân rộng sẽ góp phần giúp ngư dân Đà Nẵng và các địa phương khác có cơ hội nâng cao chất lượng sản phẩm sau thu hoạch, góp phần nâng giá trị đánh bắt và xuất khẩu của ngư dân cũng như ngành thủy sản nước ta trong thời gian tới./.

Theo http://www.dangcongsan.vn/

     
     
    © TRUNG TÂM TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ ĐÀ NẴNG
    Trụ sở chính: 49 Thế Lữ, Sơn Trà, Đà Nẵng
    Điện thoại: 0236. 3891095       Fax: 0236.3892822
     
     
    © TRUNG TÂM TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ ĐÀ NẴNG
    Trụ sở chính: 49 Thế Lữ, Sơn Trà, Đà Nẵng
    Điện thoại: 0236. 3891095       Fax: 0236.3892822